Châu thổ hình thành khi một con sông chở nhiều phù sa đổ ra biển hay hồ: dòng chảy chậm lại đột ngột, cát nặng lắng xuống trước, bùn mịn trôi xa hơn rồi kết lại khi gặp nước mặn, đáy nông dần thành bãi, bãi nổi thành đất. Sông chia thành nhiều nhánh toả ra như cái quạt, mỗi nhánh lại bồi đất ở cửa của mình. Châu thổ sông Hồng và châu thổ sông Mê Kông đều là đất rất trẻ, phần lớn mới hình thành trong khoảng sáu, bảy nghìn năm gần đây, sau khi mực nước biển dâng lên đến gần mức hiện nay.
Từ chữ cái Hy Lạp tới đồng bằng
Từ "delta" có từ thời nhà sử học Hy Lạp Herodotus, thế kỷ 5 trước Công nguyên. Ông thấy vùng đất ở cửa sông Nile có hình tam giác giống chữ cái Δ, và cái tên đó được dùng cho mọi vùng đất tương tự từ đó tới nay. Tiếng Việt gọi là châu thổ, hay đồng bằng châu thổ, để phân biệt với đồng bằng ven biển hẹp do sông nhỏ và sóng biển tạo nên như ở miền Trung.
Phù sa lắng xuống như thế nào
Khi còn trong lòng sông, nước chảy đủ mạnh để cuốn theo cát, bùn, sét. Ra tới cửa, dòng sông loe rộng, gặp nước biển đứng yên hay chảy ngược khi triều lên, tốc độ giảm hẳn. Những hạt nặng nhất như cát thô lắng ngay ở cửa, tạo thành các bãi cát ngầm chắn cửa sông. Bùn mịn và sét trôi xa hơn. Khi gặp nước mặn, các hạt sét nhỏ li ti, vốn đẩy nhau trong nước ngọt, bị muối làm cho dính lại thành cụm lớn hơn, nặng hơn và chìm xuống. Hiện tượng này gọi là keo tụ, giải thích vì sao vùng nước lợ ở cửa sông là nơi bùn lắng nhanh nhất.
Bãi cát ở cửa làm dòng chảy tách đôi. Mỗi nhánh lại mang phù sa ra cửa mới của mình, lại tạo bãi chắn, lại tách đôi. Cứ thế, một con sông lớn thành một mạng lưới phân lưu toả ra biển, và đất đai lấn ra theo hình cánh quạt.
Ba lực tạo hình châu thổ
Năm 1975, nhà địa chất William Galloway đề xuất xếp châu thổ theo lực nào chiếm ưu thế khi tạo hình nó:
- Sông chiếm ưu thế: sông chở rất nhiều phù sa vào vùng biển lặng, sóng và triều yếu. Các nhánh sông vươn dài ra biển như những ngón chân chim. Châu thổ sông Mississippi là ví dụ điển hình.
- Sóng chiếm ưu thế: sóng biển mạnh đánh phù sa trải dọc bờ thành những dải cát, bờ biển khá thẳng, cửa sông ít.
- Triều chiếm ưu thế: thuỷ triều lên xuống mạnh tạo ra nhiều cửa sông hình phễu, nhiều lạch triều và đảo dài song song với dòng chảy. Châu thổ sông Hằng – Brahmaputra ở Bangladesh thuộc loại này.
Phần lớn châu thổ thật là sự pha trộn. Châu thổ sông Hồng chịu tác động của cả sông lẫn sóng và triều; châu thổ sông Mê Kông chịu tác động mạnh của triều và sóng, với những dải giồng cát chạy song song bờ biển.
Hai châu thổ của Việt Nam
| Châu thổ sông Hồng | Châu thổ sông Mê Kông (phần Việt Nam) | |
|---|---|---|
| Diện tích | Khoảng 15.000 km² | Khoảng 40.000 km² |
| Đặc điểm phù sa | Rất nhiều phù sa, màu đỏ nâu do giàu sắt, ước tính hàng chục triệu tấn mỗi năm trước khi có các hồ chứa lớn | Phù sa mịn hơn, lượng lớn; một phần bị đẩy dọc bờ về phía mũi Cà Mau |
| Hệ thống đê | Đê sông dày đặc từ thời Lý – Trần | Ít đê lớn dọc sông trước thế kỷ 20, nước lũ tràn đồng theo mùa |
| Dấu vết bờ biển cũ | Các dải cồn cát, gò đất cao ở vùng ven biển Thái Bình, Nam Định, Ninh Bình | Các giồng cát chạy song song bờ biển ở Bến Tre, Trà Vinh, Sóc Trăng |
| Đất lấn biển nổi bật | Vùng ven biển Kim Sơn, Ninh Bình và Tiền Hải, Hưng Yên (Thái Bình cũ) | Mũi Cà Mau và bờ tây bán đảo Cà Mau |
Số liệu là ước tính phổ biến, khác nhau theo cách tính ranh giới; tên tỉnh theo địa giới sau sáp nhập năm 2025.
Biển từng vào sâu trong đất liền
Khoảng 20.000 năm trước, ở thời kỳ lạnh nhất của băng hà cuối cùng, mực nước biển thấp hơn hiện nay hơn một trăm mét. Vịnh Bắc Bộ và phần lớn biển nông phía nam là đất liền; sông Hồng, sông Mê Kông chảy xa ra ngoài đường bờ biển ngày nay. Khi băng tan, nước biển dâng nhanh. Khoảng sáu, bảy nghìn năm trước, mực nước biển đạt và có thể hơi vượt mức hiện nay, đường bờ biển lấn sâu vào đất liền hàng chục cây số so với bây giờ.
Từ đó, khi nước biển gần như đứng yên, phù sa các con sông bắt đầu lấp dần vịnh biển nông. Ở đồng bằng sông Cửu Long, các nghiên cứu lõi khoan cho thấy châu thổ đã lấn ra biển hàng trăm cây số trong vài nghìn năm. Những giồng cát cao chạy song song bờ biển ở Bến Tre, Trà Vinh, Sóc Trăng là dấu vết của các đường bờ cũ: mỗi giồng từng là một bãi cát ven biển, rồi bị bỏ lại phía sau khi đất tiếp tục lấn ra. Người dân từ lâu đã chọn các giồng cao ráo để lập làng, trồng hoa màu, cây ăn trái.
Đê sông và đất lấn biển
Ở đồng bằng sông Hồng, con người can thiệp vào quá trình bồi đắp từ rất sớm. Đại Việt sử ký toàn thư chép năm 1108, đời Lý Nhân Tông, đắp đê ở phường Cơ Xá để ngăn nước sông. Năm 1248, đời Trần Thái Tông, triều đình sai các lộ đắp đê dọc sông, gọi là đê quai vạc, và đặt chức quan chuyên coi đê. Từ đó, hệ thống đê ngày càng dày đặc.
Đê giữ cho làng mạc khỏi lũ nhưng cũng thay đổi cách châu thổ lớn lên. Trước khi có đê, mỗi mùa lũ nước tràn khắp đồng bằng, rải một lớp phù sa mỏng, đất trong đồng cao dần đều đặn. Có đê, phù sa bị giữ trong lòng sông và các bãi ngoài đê. Bãi ngoài đê và lòng sông được bồi cao dần, trong khi ruộng trong đê không còn nhận phù sa mới. Phần lớn phù sa bị dòng sông đưa thẳng ra cửa biển, góp phần làm vùng ven biển lấn ra nhanh hơn.
Đầu thế kỷ 19, Nguyễn Công Trứ, khi làm Doanh điền sứ, tổ chức khai hoang, lập hai đơn vị hành chính mới là Tiền Hải năm 1828 và Kim Sơn năm 1829 trên những bãi bồi ven biển mới nổi. Ở Kim Sơn, quá trình lấn biển vẫn tiếp diễn: các con đê quai lấn biển nối tiếp nhau được đắp ra xa dần qua hai thế kỷ. Ranh giới hành chính cũ đã thay đổi, nhưng tên gọi lịch sử gắn với công cuộc khai hoang ấy vẫn còn.
Đất trẻ, đất màu mỡ
Châu thổ là nơi màu mỡ nhất của nhiều quốc gia. Phù sa mang theo khoáng chất từ cả một lưu vực rộng lớn, lắng lại thành lớp đất mịn, giữ nước tốt. Vùng nước ở cửa sông giàu dinh dưỡng nuôi tôm cá, rừng ngập mặn, bãi triều với chim di cư. Chính vì vậy, các nền văn minh lúa nước lớn ở châu Á đều gắn với châu thổ.
Nhưng châu thổ cũng là vùng đất mong manh. Đất trẻ, chưa nén chặt, tự lún dần theo thời gian. Châu thổ chỉ giữ được độ cao khi phù sa bồi đủ bù cho phần lún. Khi lượng phù sa từ thượng nguồn đổ về giảm, do hồ chứa giữ lại hoặc do khai thác cát lòng sông, cán cân có thể nghiêng sang phía mất đất. Đó là vấn đề các nhà khoa học đang theo dõi ở nhiều châu thổ lớn trên thế giới, cả sông Hồng và sông Mê Kông.
Góc nhìn hôm nay
- Mở ảnh vệ tinh vùng cửa sông Hồng ở Ba Lạt hoặc các cửa sông Tiền, sông Hậu: dải nước nâu đục loang ra biển xanh chính là phù sa đang lắng.
- Ở miền Tây, để ý các con đường, làng xóm chạy theo những dải đất cao song song bờ biển: đó là các giồng cát, những bờ biển cũ.
- Ở Kim Sơn, Ninh Bình, có thể đi dọc các con đê lấn biển nối tiếp nhau để hình dung đất được "đắp" ra biển qua từng thế hệ.
Người muốn đọc thêm có thể tìm phần đồng bằng trong sách Địa lý 12, các công trình nghiên cứu lõi khoan châu thổ sông Mê Kông và sông Hồng của các nhà địa chất Việt Nam và Nhật Bản, và chương về đê điều trong các sách lịch sử thời Lý – Trần.
Câu hỏi thường gặp
Châu thổ là gì?
Châu thổ là vùng đất thấp, bằng phẳng hình thành ở cửa sông do phù sa lắng đọng khi dòng sông chảy chậm lại lúc gặp biển hay hồ. Tên gọi delta trong tiếng nước ngoài bắt nguồn từ chữ cái Hy Lạp Δ do hình tam giác của châu thổ sông Nile.
Đồng bằng sông Hồng hình thành như thế nào?
Đồng bằng sông Hồng do phù sa của sông Hồng và sông Thái Bình bồi đắp vào một vịnh biển nông, chủ yếu trong vài nghìn năm gần đây sau khi mực nước biển dâng lên gần mức hiện nay. Từ thời Lý – Trần, hệ thống đê khiến phù sa bồi chủ yếu ở bãi ngoài đê và vùng ven biển.
Vì sao đồng bằng sông Cửu Long có nhiều giồng cát?
Các giồng cát là dấu vết của những đường bờ biển cũ. Khi châu thổ lấn dần ra biển, mỗi bãi cát ven biển bị bỏ lại phía sau thành một dải đất cao song song với bờ biển hiện nay.
Vì sao phù sa lắng nhiều ở cửa sông?
Ở cửa sông, dòng chảy chậm lại đột ngột nên cát nặng lắng xuống. Khi gặp nước mặn, các hạt sét mịn còn bị muối làm dính thành cụm lớn hơn và chìm nhanh, gọi là hiện tượng keo tụ.
Châu thổ có thể bị mất đất không?
Có. Đất châu thổ trẻ tự lún dần và chỉ giữ được độ cao khi phù sa mới bồi đủ bù. Khi lượng phù sa từ thượng nguồn giảm, nhiều đoạn bờ chuyển từ bồi sang xói.