Việt Nam có gần như đủ mọi nhóm hệ sinh thái lớn của vùng nhiệt đới châu Á: núi cao, núi đá vôi, sông hồ, đất ngập nước nội địa, đồng ruộng, cửa sông, rừng ngập mặn, đầm phá, cồn cát, bãi triều, thảm cỏ biển và rạn san hô. Lý do nằm ở ba thứ: lãnh thổ trải dài khoảng 15 vĩ độ, độ cao đi từ mặt biển lên hơn 3.100 m, và đường bờ biển dài hơn 3.200 km. Mỗi dải đất, mỗi độ cao, mỗi mức mặn ngọt lại cho một tập hợp sinh vật khác nhau.
Hệ sinh thái là gì, nhìn theo kiểu bản đồ
Trong Sinh học 12, hệ sinh thái gồm hai phần gắn chặt với nhau: quần xã sinh vật (mọi loài cùng sống ở một chỗ) và sinh cảnh (đất, nước, ánh sáng, nhiệt độ, độ mặn nơi đó). Khi đem khái niệm này đặt lên bản đồ Việt Nam, ta không thấy một khối đồng nhất mà thấy một tấm khảm: chỗ này nước ngọt, chỗ kia nước lợ; chỗ này đá vôi khô, chỗ kia bùn ngập mỗi ngày hai lần.
Ranh giới giữa các mảnh khảm thường không sắc nét. Nhà sinh thái gọi dải này là vùng chuyển tiếp sinh thái (ecotone). Cửa sông là ví dụ rõ nhất: đi từ thượng nguồn ra biển, độ mặn tăng dần, và loài sống ở mỗi đoạn cũng đổi dần theo. Những vùng chuyển tiếp như vậy thường giàu loài hơn cả hai phía, vì sinh vật của cả hai bên cùng có mặt.
Vì sao một dải đất hẹp lại có nhiều hệ sinh thái như vậy
Trải dài theo vĩ độ
Phần lãnh thổ đất liền đi từ khoảng 8°30′ tới hơn 23° vĩ độ Bắc. Miền Bắc có mùa đông lạnh thật sự, có năm băng giá trên đỉnh Hoàng Liên Sơn. Miền Nam nóng quanh năm, chỉ chia mùa mưa và mùa khô. Nhiều loài cây, loài chim chỉ sống ở một nửa đất nước, nửa kia không thấy.
Độ cao từ mặt biển lên trên 3.000 m
Leo từ chân núi lên đỉnh Fansipan là đi qua nhiều đai khí hậu chỉ trong vài chục kilômét. Cơ chế đai cao đã có bài riêng ở danh mục địa hình; ở đây chỉ cần nhớ hệ quả: núi cao Tây Bắc, cao nguyên Lâm Viên giữ những loài ưa mát mà vùng thấp không có.
Bờ biển dài và hai châu thổ lớn
Hơn 3.200 km bờ biển cho đủ kiểu bờ: bờ bùn ở châu thổ, bờ cát ở miền Trung, bờ đá ở các mũi núi lấn ra biển. Hai châu thổ sông Hồng và sông Mê Kông là những vùng đất thấp rộng nhất, nơi đất ngập nước và đồng ruộng chiếm ưu thế.
Đá vôi và đảo
Núi đá vôi phủ một phần lớn miền Bắc và rải rác ở miền Trung, miền Nam. Mỗi khối núi đá như một hòn đảo trên cạn, nơi nhiều loài ốc, bò sát, thực vật chỉ có ở đúng một vài ngọn núi. Ngoài biển, hàng nghìn đảo lớn nhỏ từ Cát Bà tới Côn Đảo, Phú Quốc giữ những quần thể sinh vật riêng.
Bảng tổng hợp các nhóm hệ sinh thái chính
| Nhóm hệ sinh thái | Nơi tiêu biểu | Điều kiện quyết định | Sinh vật đặc trưng |
|---|---|---|---|
| Núi cao | Hoàng Liên Sơn, Lâm Viên | Nhiệt độ thấp, sương mù, gió mạnh | Rêu, đỗ quyên, chim vùng núi |
| Núi đá vôi | Cát Bà, Vân Long, vùng núi phía Bắc | Đất mỏng, khô, giàu canxi | Voọc, ốc cạn, lan hài, tắc kè |
| Sông, hồ nước ngọt | Hồ Ba Bể, các dòng sông lớn | Dòng chảy, độ sâu, phù sa | Cá, tôm, thực vật thuỷ sinh, chim nước |
| Đất ngập nước nội địa | Đồng Tháp Mười, U Minh | Ngập theo mùa, đất phèn, than bùn | Cỏ năng, sen, súng, cò, sếu |
| Đồng ruộng | Hai châu thổ, thung lũng | Con người điều tiết nước | Lúa, chuột, ếch, rắn, cò |
| Rừng ngập mặn, bãi triều | Cần Giờ, Mũi Cà Mau, Xuân Thuỷ | Thuỷ triều, bùn, nước lợ | Cua, cá thòi lòi, tôm con, chim di cư |
| Đầm phá | Tam Giang – Cầu Hai, Ô Loan, Thị Nại | Nước lợ, mặn ngọt đổi theo mùa | Cá đối, tôm, cỏ biển |
| Cồn cát | Ven biển Quảng Trị tới Lâm Đồng | Cát rời, nắng gắt, gió | Rau muống biển, cỏ chông, cua ma |
| Thảm cỏ biển | Phú Quốc, Côn Đảo, Khánh Hoà | Nước nông, trong, đáy cát bùn | Cỏ biển, rùa xanh, bò biển |
| Rạn san hô | Hòn Mun, Cù Lao Chàm, Côn Đảo | Nước ấm, trong, ít phù sa | San hô cứng, cá mó, cá bướm |
Rừng nhiệt đới các kiểu là một mảng lớn khác, có danh mục riêng ở site chuyên về rừng nên bảng trên không tách ra từng kiểu rừng.
Các hệ sinh thái nối với nhau ra sao
Điều dễ bỏ qua nhất khi học từng hệ là chúng không sống tách rời. Vài sợi dây nối dễ thấy:
- Nước và phù sa: mưa trên núi chảy thành sông, mang phù sa bồi châu thổ và rừng ngập mặn. Rừng đầu nguồn giữ nước thì đồng bằng ít hạn, ít lũ đột ngột.
- Cá con đi một vòng: nhiều loài cá rạn san hô và tôm biển sống giai đoạn nhỏ trong rừng ngập mặn hoặc thảm cỏ biển, lớn lên mới ra rạn. Mất rừng ngập mặn thì rạn cũng vắng cá.
- Bộ lọc tự nhiên: rừng ngập mặn và thảm cỏ biển giữ bớt bùn đất trôi ra biển, giúp nước quanh rạn san hô trong hơn.
- Chim di cư: mỗi mùa đông, chim từ vùng cực Bắc châu Á về nghỉ ở bãi triều Xuân Thuỷ, Tiên Lãng, Cà Mau. Bãi triều Việt Nam là một trạm trên tuyến di cư Đông Á – Úc, nối với hệ sinh thái ở cách xa hàng nghìn kilômét.
Những vùng được thế giới ghi nhận
Một số hệ sinh thái Việt Nam đã được đưa vào các danh sách quốc tế. Hai danh sách hay gặp nhất:
- Khu Ramsar (đất ngập nước có tầm quan trọng quốc tế): Xuân Thuỷ là khu đầu tiên, được công nhận năm 1989. Tính tới giữa năm 2026, các nguồn chính thức trong nước ghi Việt Nam có 9 khu Ramsar, tổng diện tích hơn 120.000 ha.
- Khu dự trữ sinh quyển thế giới của chương trình Con người và Sinh quyển (MAB) thuộc UNESCO: Cần Giờ được công nhận năm 2000, sau đó tới Cát Tiên, Cát Bà, châu thổ sông Hồng, ven biển Kiên Giang, miền Tây Nghệ An, Cù Lao Chàm, Mũi Cà Mau, Langbiang, Núi Chúa, Kon Hà Nừng và một số khu mới hơn.
Khu dự trữ sinh quyển không phải là "khu cấm": nó gồm vùng lõi bảo vệ nghiêm, vùng đệm và vùng chuyển tiếp nơi người dân vẫn sinh sống, làm ăn. Ý tưởng là thử cách để con người và hệ sinh thái cùng tồn tại.
Áp lực chung lên các hệ sinh thái
Các báo cáo đa dạng sinh học quốc gia và tài liệu giáo khoa thường nêu cùng một nhóm áp lực:
- Mất và chia cắt sinh cảnh: đất ngập nước bị san lấp, bờ biển bị bê tông hoá, rừng ngập mặn chuyển sang ao nuôi.
- Khai thác quá mức: đánh bắt bằng lưới mắt nhỏ, khai thác san hô, săn bắt chim di cư.
- Ô nhiễm: nước thải, rác nhựa, phân bón trôi xuống sông hồ gây tảo nở hoa.
- Nước biển ấm lên: làm san hô tẩy trắng; nước biển dâng và xâm nhập mặn đổi điều kiện sống của vùng ven biển.
- Loài ngoại lai: một số loài từ nơi khác lấn át loài bản địa (chủ đề này có site riêng bàn sâu).
Điều đáng chú ý là các áp lực cộng dồn: một rạn san hô vừa bị đục nước vì mất rừng ngập mặn, vừa bị khai thác cá ăn tảo, thì khi gặp đợt nước nóng sẽ khó hồi phục hơn hẳn một rạn khoẻ.
Góc nhìn hôm nay: tìm hiểu ở đâu, đọc gì
- Bảo tàng Thiên nhiên Việt Nam (Hà Nội) trưng bày mẫu vật và mô hình nhiều hệ sinh thái.
- Bảo tàng Hải dương học ở Nha Trang (Viện Hải dương học) có bể nuôi và hàng nghìn mẫu sinh vật biển.
- Các khu Ramsar và khu dự trữ sinh quyển thường có trung tâm du khách, đường mòn quan sát chim. Đi theo hướng dẫn viên địa phương, chỉ nhìn và chụp ảnh, không bắt, không hái.
- Sách nên đọc: phần Sinh thái học trong SGK Sinh học 12; phần sinh quyển trong Địa lý 10; Sách Đỏ Việt Nam 2007 để biết loài nào đang bị đe doạ.
Một cách học dễ nhớ: chọn một dòng sông gần nhà, đi dọc nó từ thượng nguồn về cửa biển (trên bản đồ hoặc đi thật), ghi lại mỗi đoạn có những sinh vật gì. Đó chính là đi xuyên qua nhiều hệ sinh thái nối liền nhau.
Câu hỏi thường gặp
Việt Nam có những hệ sinh thái nào?
Việt Nam có hệ sinh thái núi cao, núi đá vôi, rừng các kiểu, sông hồ nước ngọt, đất ngập nước nội địa, đồng ruộng, cửa sông, rừng ngập mặn, đầm phá, bãi triều, cồn cát, thảm cỏ biển và rạn san hô. Có thể gom thành ba nhóm lớn: trên cạn, nước ngọt và biển – ven biển.
Vì sao Việt Nam đa dạng sinh học cao?
Vì lãnh thổ trải dài khoảng 15 vĩ độ, có độ cao từ mặt biển lên hơn 3.100 m, bờ biển dài hơn 3.200 km, nhiều núi đá vôi và đảo. Mỗi điều kiện tạo ra nơi sống riêng cho những loài khác nhau.
Khu Ramsar đầu tiên của Việt Nam là ở đâu?
Là Xuân Thuỷ, vùng bãi bồi cửa sông Hồng, được công nhận năm 1989. Đây cũng là khu Ramsar đầu tiên của Đông Nam Á.
Hệ sinh thái nhân tạo ở Việt Nam gồm những gì?
Đồng ruộng, ao nuôi, rừng trồng, vườn cây ăn quả và đô thị là các hệ sinh thái do con người tạo ra hoặc điều khiển. Chúng vẫn có chuỗi thức ăn và vòng tuần hoàn vật chất, nhưng phụ thuộc nhiều vào việc con người bón phân, tưới nước, thu hoạch.
Khu dự trữ sinh quyển khác vườn quốc gia thế nào?
Vườn quốc gia chủ yếu để bảo vệ thiên nhiên. Khu dự trữ sinh quyển của UNESCO rộng hơn, gồm vùng lõi bảo vệ, vùng đệm và vùng chuyển tiếp có người sinh sống, nhằm thử nghiệm cách phát triển hài hoà với thiên nhiên.