Đầm phá Tam Giang – Cầu Hai ở thành phố Huế là một dải nước lợ dài gần 70 km, rộng khoảng 22.000 ha, nằm sau một doi cát chạy song song bờ biển, thường được gọi là hệ đầm phá lớn nhất Đông Nam Á. Nước ngọt từ các con sông đổ vào phía trong, nước mặn từ biển vào qua hai cửa Thuận An và Tư Hiền. Độ mặn đổi theo mùa và theo từng đoạn, tạo nên một hệ sinh thái nuôi hàng trăm loài cá, tôm, cua và sinh kế của hàng chục nghìn người dân ven phá.
Đầm phá là gì
Trong địa lý ven biển, đầm phá (lagoon) là vùng nước nông bị ngăn với biển bởi một dải cồn cát hoặc đảo chắn, chỉ thông ra biển qua một hoặc vài cửa hẹp. Khác với cửa sông mở rộng ra biển, đầm phá gần như là một cái "bể" nửa kín. Nước trong đó chịu ảnh hưởng cùng lúc của sông, của biển và của mưa.
Miền Trung Việt Nam có cả một chuỗi đầm phá: Tam Giang – Cầu Hai, Lăng Cô, Trường Giang, An Khê, Nước Mặn, Thị Nại, Ô Loan, Thuỷ Triều… Lý do là bờ biển miền Trung có nhiều cồn cát lớn do gió và sóng đắp lên, chắn ngang các vùng trũng sau bờ. Tam Giang – Cầu Hai là hệ dài và rộng nhất.
Cấu tạo của hệ Tam Giang – Cầu Hai
Đi từ bắc vào nam, hệ đầm phá gồm ba phần nối liền:
- Phá Tam Giang ở phía bắc, nhận nước sông Ô Lâu, sông Bồ và sông Hương. Cửa Thuận An gần đó là cửa thông biển chính.
- Đầm Thuỷ Tú – An Truyền ở đoạn giữa, hẹp và nông hơn.
- Đầm Cầu Hai ở phía nam, rộng, hình gần tròn, nhận nước sông Truồi và các suối nhỏ, thông biển qua cửa Tư Hiền.
Hai cửa biển không cố định mãi. Cửa đầm phá miền Trung có thể bị cát bồi hẹp lại trong mùa khô và bị lũ phá rộng ra trong mùa mưa. Trận lũ lịch sử tháng 11 năm 1999 từng mở thêm một cửa mới ở khu vực Hoà Duân, sau đó cửa này được lấp lại. Chỉ cần cửa đổi rộng hẹp là độ mặn cả vùng phía trong đổi theo.
Nước lợ thay đổi theo mùa
Đặc điểm quyết định của hệ sinh thái này là độ mặn không đứng yên. Có hai trục thay đổi:
- Theo không gian: gần cửa biển nước mặn hơn; sát cửa sông nước gần như ngọt. Đầm Cầu Hai ở phía nam thường mặn hơn phá Tam Giang vì ít nước sông lớn đổ vào hơn.
- Theo mùa: mưa và lũ ở Huế tập trung vào khoảng tháng 9 tới tháng 12. Khi đó lượng nước sông khổng lồ đẩy nước mặn ra, nhiều đoạn phá gần như ngọt. Mùa khô, sông ít nước, nước biển lấn vào sâu.
| Yếu tố | Mùa khô (khoảng tháng 2–8) | Mùa mưa lũ (khoảng tháng 9–12) |
|---|---|---|
| Độ mặn | Cao, nhất là gần cửa biển và đầm Cầu Hai | Giảm mạnh, nhiều nơi gần như nước ngọt |
| Độ đục | Nước trong hơn | Đục do phù sa |
| Sinh vật chiếm ưu thế | Loài ưa mặn từ biển vào kiếm ăn | Loài ưa ngọt từ sông xuống; loài biển rút ra |
| Rủi ro | Thiếu oxy về đêm ở chỗ nước tù, nuôi dày | Lũ cuốn trôi lồng nuôi, đổi cửa biển |
Sinh vật sống thường trú ở đây phải chịu được độ mặn lên xuống, gọi là loài rộng muối. Những loài hẹp muối chỉ ghé vào theo mùa rồi đi.
Ai sống trong đầm phá
Sinh vật sản xuất
Ba nguồn chính nuôi cả hệ: thực vật phù du trong nước; thảm cỏ biển và thực vật thuỷ sinh chịu lợ mọc ở đáy nông; và mùn hữu cơ do sông mang xuống. Thảm cỏ ở đầm phá là chỗ trú của tôm cá con và chỗ bám của trứng nhiều loài.
Động vật
Các khảo sát ghi nhận ở hệ đầm phá này hơn hai trăm loài cá, cùng nhiều loài tôm, cua, ghẹ, ốc, hến và nhuyễn thể khác. Có thể chia cá thành ba nhóm theo cách dùng đầm phá:
- Cá nước lợ thường trú: sống trọn đời trong phá, chịu được độ mặn đổi nhiều.
- Cá biển vào kiếm ăn hoặc ươm con: như cá đối, cá dìa, cá căng; trứng đẻ ngoài biển, cá con vào phá lớn lên.
- Cá nước ngọt từ sông xuống: nhiều trong mùa lũ, rút về sông khi nước mặn lại.
Trên cùng là chim: diệc, cò, bói cá và một số loài chim nước di cư dừng chân vào mùa đông ở các vùng bãi và đầm cạn quanh phá.
Đầm phá và người dân
Người dân ven phá có những ngư cụ gắn liền với hệ sinh thái nước nông:
- Nò sáo: hàng rào lưới hoặc tre cắm thành hình chữ V, dẫn cá theo dòng vào một cái bẫy ở cuối.
- Chuôm: bó cành cây thả xuống đáy, cá tôm vào trú, người ta quây lưới lại thu.
- Lưới, đăng, đáy: chặn theo dòng nước lên xuống.
- Ao và lồng nuôi: nuôi tôm, cua, cá trong ô quây hoặc ao đắp ven bờ, phát triển mạnh từ thập niên 1990.
Khi nò sáo và lồng nuôi cắm dày đặc, dòng chảy trong phá chậm lại, nước kém trao đổi, mùn và thức ăn thừa tích tụ dưới đáy. Những năm nuôi quá dày từng xảy ra dịch bệnh tôm và thiếu oxy. Các chương trình quy hoạch lại nò sáo, lập khu bảo vệ thuỷ sản có sự tham gia của cộng đồng ngư dân đã được triển khai ở nhiều xã ven phá; kết quả khác nhau theo nơi.
Đầm phá học được gì cho các hệ sinh thái khác
- Cửa nhỏ, ảnh hưởng lớn: chỉ vài trăm mét cửa biển quyết định độ mặn cho hàng chục nghìn hecta. Đụng vào cửa là đụng vào cả hệ.
- Hệ thay đổi là bình thường: một đầm phá "khoẻ" không phải là đứng yên, mà là đổi theo mùa trong một biên độ quen thuộc. Sinh vật đã thích nghi với nhịp đó; khi nhịp bị phá (cửa đóng lâu, nuôi quá dày), hệ mới gặp chuyện.
- Nối với biển: cá biển ươm con trong phá, nên giữ đầm phá cũng là giữ nguồn cá ngoài khơi gần bờ.
Góc nhìn hôm nay: đi xem và đọc thêm
- Bình minh hoặc hoàng hôn trên phá Tam Giang, nhìn từ các làng chài ven phá, là lúc thấy rõ nhất hàng nò sáo, thuyền nan và chim đi kiếm ăn.
- Thử để ý màu nước gần cửa Thuận An khi triều lên: nước biển xanh hơn len vào lớp nước phá đục hơn.
- Các chợ cá ven phá cho thấy độ đa dạng của nguồn lợi; nên tránh mua cá con, tôm con quá nhỏ.
- Tài liệu: các nghiên cứu về đầm phá của Đại học Huế và Viện Hải dương học; phần hệ sinh thái cửa sông – đầm phá trong giáo trình sinh thái học biển.
Câu hỏi thường gặp
Đầm phá Tam Giang – Cầu Hai rộng bao nhiêu?
Hệ đầm phá dài gần 70 km, diện tích mặt nước khoảng 22.000 ha, các nguồn đưa con số hơi khác nhau. Nó thường được gọi là hệ đầm phá lớn nhất Đông Nam Á.
Phá khác đầm thế nào?
Trong cách gọi dân gian miền Trung, "phá" thường chỉ vùng nước rộng, thông ra biển, sóng lớn như phá Tam Giang; "đầm" là vùng nước kín hơn, lặng hơn như đầm Cầu Hai. Về khoa học, cả hai đều thuộc hệ đầm phá ven bờ (lagoon).
Vì sao nước ở phá Tam Giang lúc mặn lúc ngọt?
Vì phá nhận nước ngọt từ nhiều con sông và nước mặn từ biển qua cửa Thuận An, Tư Hiền. Mùa lũ nước sông đẩy nước mặn ra, mùa khô nước biển lấn vào. Độ mặn còn đổi theo khoảng cách tới cửa biển.
Nò sáo là gì?
Nò sáo là ngư cụ cố định trên đầm phá: hàng rào cắm thành hình chữ V dẫn cá tôm theo dòng nước vào một cái bẫy ở cuối. Cắm quá dày làm cản dòng chảy, nên nhiều nơi đã quy hoạch lại.
Đầm phá Tam Giang – Cầu Hai thuộc tỉnh nào?
Hệ đầm phá nằm trên địa bàn thành phố Huế (trước đây là tỉnh Thừa Thiên Huế), trải dài qua nhiều xã, phường ven biển từ bắc tới nam.